Học tập theo gương Bác

THẦY TÔI

12:31 12/12/2018

    

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Thật vậy, học tập để hoàn thiện bản thân là việc làm thường xuyên và suốt cuộc đời mỗi người. Ấy thế, mà Bác Hồ kính yêu của chúng ta thường hay bảo “Phải thường xuyên và tự giác tự phê bình và phê bình như soi gương, rửa mặt hằng ngày”. Có soi rọi từng ngày mới nhận ra khuyết điểm của bản thân và khắc phục chúng. Bên cạnh đó, việc học tập và làm theo những tấm gương sống cũng là việc rất cần thiết đối với mỗi người và nhất là trong giai đoạn hiện nay.
Responsive image

Thầy Phạm Văn Tân với chiếc xe đạp hằng ngày đến trường

 

Với mỗi người, ai cũng luôn có những người mà chúng ta thần tượng. Với tôi cũng thế. Có lẽ mỗi ai là thế hệ học trò những năm hai ngàn lẻ, chắc hẳn sẽ không thể nào quên được hình ảnh một ông giáo già hàng ngày với chiếc xe đạp cọc cạch đến trường. Đó là người thầy tôi kính yêu - thầy Phạm Văn Tân.

Thầy tên là Phạm Văn Tân sinh ngày 25/4/1952, xã Tân Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, nhưng với quyết tâm và ý chí học tập thầy học rất giỏi. Từ đó, được gia đình ủng hộ nên thầy đã vượt qua những khó khăn để thi đậu vào trường Đại học Cần Thơ chuyên ngành Toán - Lý - Hóa. Vào thời đó, để có thể đậu vào một trường đại học là một chuyện không dễ dàng. Nhất là ở những gia đình nghèo như thầy. Thời mà người ta vẫn thường nói những câu cửa miệng như “nghèo mà còn cho con đi học”, “biết có nuôi nổi không mà đèo bòng”... Thế mà trong những năm 1970 đến 1973, thầy tôi đã theo học tại trường Đại học sư phạm. Đến năm 1973, khi tốt nghiệp ra trường, thầy chọn về một trường nông thôn để giảng dạy. Với trình độ như thế thầy hoàn toàn có thể chọn dạy một trường ở thành thị. Nhưng với lòng yêu nghề thầy lại chọn về một trường tỉnh. Và con đường sự nghiệp của thầy từ đó cũng đầy thăng trầm, biến động. Từ năm 1973 đến năm 1975, thầy tham gia dạy học trường tỉnh hạt Bình Long (tức trường THPT Trần Văn Thành cũ). Từ năm 1975 đến năm 1977 thầy giữ chức vụ Hiệu phó của trường. Vào năm 1977, thầy được luân chuyển về giữ chức vụ Hiệu trưởng trường Phổ thông cơ sở Bình Long. Nhưng không bao lâu đến năm 1979 thầy lại về làm hiệu trưởng trường Phổ thông cơ sở Bình Mỹ. Được khoảng 3 năm, đến năm 1981, thầy lại được luân chuyển về giữ chức vụ Hiệu phó trường Châu Phú A. Đến năm 1993, thầy giữ chức vụ Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông Trần Văn Thành. Rồi 7 năm sau đó, là năm 1999 thầy được luân chuyển về trường Trung học phổ thông Bình Mỹ. Có lẽ đây là khoảng thời gian mà thầy gắn bó lâu nhất với nghề. Và cũng là nơi mà thầy chọn để dừng chân. Với 7 năm giữ chức vụ hiệu trưởng của trường Bình Mỹ, từ năm 1999 đến năm 2007. Trong khoảng thời gian đó, tôi may mắn được học thầy. Vì tôi trải qua thời học sinh dưới mái trường Bình Mỹ. Suốt những năm tiểu học đến cấp hai rồi lại cả những năm cấp ba, tôi vẫn học các ngôi trường được mang một tên gọi Bình Mỹ. Vào khoảng đầu những năm cấp hai, tôi đã được gặp thầy. Khi ấy, trường THCS Bình Mỹ được chia làm hai điểm. Tôi học ở điểm phụ, có thể nói hiếm lắm mới có cơ hội được thầy truyền dạy dưới cờ. Nhưng trong những lần ít ỏi đó, tôi đã quen và mến dần giọng nói cũng như thấm nhuần từng lời dạy của thầy.

Ít ai biết được, với chuyên ngành sư phạm Toán - Lý - Hóa, thầy còn dạy cả môn giáo dục công dân - là một bộ môn dạy làm người từ khi chúng tôi còn đang  ngồi ở ghế nhà trường. Dầu đã qua nhiều năm nhưng tôi vẫn nhớ rất rõ. Thầy có dáng người gầy gầy, cao cao. Khuôn mặt xương của thầy lúc nào cũng đầy nghiêm nghị nhưng đôi mắt sâu và đầy vẻ suy tư. Lúc nào đến trường, thầy cũng trong những bộ quần áo chỉnh tề. Đó không phải là những bộ áo mới nhưng sạch sẽ tươm tất. Đó không phải những chiếc áo, chiếc quần hàng hiệu nhưng được thầy giữ gìn rất cẩn thận. Vì nó đã gắn bó với thầy trong nhiều năm làm nghề. Mãi sau này khi về trường kiến tập tôi vẫn gặp lại thầy với những chiếc áo quen thuộc ấy. Giống như Hồ Chí Minh sinh thời cũng với những trang phục giản dị. Với bộ trang phục ấy Người đã đi khắp năm châu, gặp bạn bè thế giới và mang về những thắng lợi vẻ vang cho dân tộc Việt Nam. Bởi vậy sống trên đời, người ta không cần khoác lên mình những bộ lụa là, những bộ hàng hiệu để thể hiện đẳng cấp. Nhưng phẩm chất con người vẫn toát ra từ những bộ trang phục đơn sơ nhất. Vì đó là sự cần kiệm, kỹ càng, giản dị và gần gũi. Và điều đó chỉ có thể xuất phát từ bản chất của mỗi con người. Với lứa tuổi học trò ấy tôi không nghĩ nhiều và sâu xa về con người qua cách mặc. Tôi chỉ ấn tượng vì thầy với những bộ quần áo không sắc màu lòe loẹt nhưng đầy tác phong của người làm sư phạm.

Thế kỷ XXI, người ta đã quen dần với những phương tiện giao thông hiện đại hơn. Nhưng với thầy tôi, thầy vẫn hàng ngày đến trường với chiếc xe đạp cọc cạch. Đó dường như trở thành âm thanh quen thuộc với tôi. Hàng ngày với chiếc xe đạp ấy thầy vẫn hai buổi đến trường. Hiếm lắm tôi mới thấy thầy sử dụng xe máy cho những lần đi công tác xa. Mặc dù với cương vị hiệu trưởng của một ngôi trường cấp ba, nhưng thầy vẫn gắn bó với chiếc xe đạp ấy trong suốt những năm tôi học trường Bình Mỹ. Bây giờ nhớ đến hình ảnh thầy với chiếc xe đạp ấy tôi còn phải thẹn thùng vì xấu hổ. Ngày nay với thời kỳ hiện đại, công nghệ thông tin phát triển phục vụ đời sống con người. Và con người cũng dần phụ thuộc vào điều đó. Họ thậm chí không dám nghĩ đến một ngày nào đó sẽ di chuyển bằng phương tiện “xe đạp”. Ngày nay, đi học, đi dạy, đi chơi, đi chợ…. tất cả mọi thứ dù xa hay gần đều với một thói quen - xe gắn máy. Và cả tôi cũng thế. Vậy mà thầy - một hiệu trưởng trong thế kỉ XXI lại vẫn đèo chiếc xe cũ kỹ ấy đến trường hàng ngày.

Nhắc đến thầy, tôi còn nhớ đến người có nghị lực thật phi thường. Chắc thế hệ học trò bằng tuổi tôi đều nhớ một căn bệnh u não đến bất ngờ khi thầy còn đương nhiệm chức vụ hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Bình Mỹ. Năm đó, tôi là học sinh cuối cấp ba. Nhưng may thay thần chết đã bỏ quên thầy, bỏ quên một ông giáo cần kiệm, giản dị. Thầy chỉ bị di chứng nhẹ sau ca phẩu thuật, miệng thầy méo sang trái, mắt phải bị giảm thị lực. Thế mà với lòng yêu trẻ thầy đã chống chọi căn bệnh để tiếp tục làm nghề. Nhìn hình ảnh thầy tôi rất xúc động. Với chiếc miệng không linh hoạt thầy vẫn truyền dạy chúng tôi thật nhiều điều ý nghĩa. Mà ý nghĩa nhất có lẽ là hình ảnh người thầy đầy nghị lực đã vươn lên trên số phận để tận tâm với nghề. Thầy dạy tôi hãy có trách nhiệm với cái nghề của mình. Thầy dạy tôi hãy sống thật là chính con người mình. Dù thân thể có nhiều khiếm khuyết, có nhiều thứ không hoàn hảo nhưng hãy học hoàn hảo bản thân từ nhân cách và lối sống của mình. Bởi lẽ, bản thân mỗi người không hề được chọn nơi sinh ra, không được chọn hình dáng gia cảnh như thế nào. Nhưng hãy chọn cách sống để tự khẳng định bản thân với mọi người. Thầy dạy tôi hãy biết kiên trì và vững chí vượt qua những khó khăn thử thách. Và khi ta có đủ dũng khí và kiên định bước qua những khó khăn ấy thì thành công sẽ mỉm cười với ta. Thầy dạy tôi hãy biết chấp nhận phần khuyết của mình để làm nó tròn hơn. Vì ở đâu đó chắc có lẽ có nhiều số phận còn bất hạnh và thiếu may mắn hơn chúng ta. Thầy dạy tôi rằng hãy lạc quan với cuộc đời và nói không với tự ti mặc dù ta không được hoàn hảo. Và trong suốt những năm ngồi ghế nhà trường, hình ảnh người thầy với chiếc miệng thiếu linh hoạt và những phát âm không tròn vành rõ chữ ấy lại là tấm gương sống để tiếp thêm động lực cho tôi chọn nghề cầm phấn, gắn liền với bảng đen và học trò.

Sau căn bệnh đó, vào năm 2007 thầy xin thôi giữ chức vụ hiệu trưởng và xin về dạy lớp. Thầy vẫn được tín nhiệm và được chọn làm tổ trưởng chuyên môn tổ Chính trị - Giáo dục công dân. Và còn là Chủ tịch Hội khuyến học của trường và của xã Bình Mỹ. Đến năm 2012, thầy xin về hưu và chỉ giữ chức Chủ tịch Hội khuyến học xã Bình Mỹ. Dù không trực tiếp cầm phấn và đứng lớp để truyền dạy học sinh. Nhưng thầy vẫn nguyện làm hậu phương vững chắc để nâng đỡ những học trò có hoàn cảnh khó khăn. Vẫn tiếp thêm điều kiện và động lực để các em có thể tiếp tục đến trường thực hiện ước mơ của mình. Đó chính là sự tận tụy và yêu nghề, yêu trẻ của thầy tôi.

Mãi những năm sau ra trường, khi đã là một cô giáo giảng dạy ở một trường nông thôn xa nhà. Mỗi lần về, ba tôi vẫn hay nhắc thầy. Ba nói thích đi họp phụ huynh cho tôi vì thích nghe cách thầy nói chuyện. Ba tôi kính mến thầy không chỉ vì vẻ ngoài giản dị mà đó còn là sự gần gũi, hòa nhã với những người lao động bình dân như ba tôi. Chính sự thân thiện ấy, mà khoảng cách giữa một người hiệu trưởng và một phụ huynh - người lao động chân tay, dường như không còn. Trong những câu chuyện của thầy với các bậc cha mẹ của học sinh chỉ nhường chỗ lại cho sự quan tâm,  ân cần. Từ đó mới thấy, người ta sống trên đời quý nhau không phải vì cho nhau những món quà quý giá, không vì sự mưu lợi với nhau mà đó đơn giản chỉ là những cách ứng xử chân thật, gần gũi trong từng câu nói.

Hơn mười năm sau, khi đã là một giáo viên, tôi có dịp về thăm thầy. Thầy vẫn như xưa. Tôi mừng vì sức khỏe thầy vẫn tốt. Tôi mừng vì vẫn được gặp lại hình ảnh người thầy giản dị, gần gũi và trìu mến như xưa. Tôi ghé thăm thầy khi trời đã tắt nắng. Nhưng thầy cô vẫn chào đón tôi thật ân cần, làm tôi đầy xúc động. Nhưng có lẽ điều tôi xuyến xao nhất là mắt phải của thầy đã không còn. Do biến chứng của bệnh nên không nhìn thấy được nữa. Nghe cô kể mà xúc động. Thầy không chọn làm mắt giả. Chắc có lẽ trước giờ thầy chỉ quen với cái thật. Một mắt mất đi có thể làm ngoại hình xấu đi một tí. Nhưng nó không làm giảm giá trị con người. Mà nhất là thầy tôi lại càng không thể. Bản chất con người như thế nào thì cho dù bụi thời gian có phủ đầy, hay cuộc sống đầy xô đẩy vẫn không làm phai mờ nếu ta giữ vững phẩm chất của mình. Thầy tôi với hơn 40 năm cống hiến cho sự nghiệp giáo dục, tài sản còn lại không có gì ngoài những bằng khen mà thầy tôi giữ gìn cẩn thận. Nào là bằng khen của Bộ giáo dục và đào tạo năm 1997-1998, bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang từ năm 1986 đến năm 1991, ngoài ra còn có bằng khen của Liên đoàn Lao động tỉnh, của Huyện ủy và Chi bộ.... Đó là những tài sản vô giá mà chưa chắc cả đời cầm phấn của tôi có được. Chẳng những thế, thầy được bước vào hàng ngũ của Đảng ngày 20/4/1988 - đó là ngày thầy nhớ mãi, khi tôi có dịp hỏi đến là thầy nói ngay mà không cần phải nghĩ ngợi, tính đến nay thầy đã được huy chương 30 năm tuổi Đảng. Đó là điều thầy tự hào và tôi - học trò của thầy, cũng rất tự hào.

Câu chuyện của thầy và tôi khép lại. Tôi cúi đầu chào thầy cô ra về. Thầy cô tiễn tôi đến tận cổng. Và cho dù thời gian có lâu hơn nữa, nhưng những tiếng xe cọc cạch sẽ mãi đi vào tiềm thức tôi. Đó như lời nhắc nhở tôi cần phải biết hoàn thiện bản thân, cần trau dồi học hỏi để không ngừng phát triển. Và biết đâu với quyết tâm ấy, trong số những học trò của tôi sẽ có những đứa nhớ đến tôi như tôi đã nhớ đến thầy./.

Nguyễn Thanh Xuân – Giáo viên, trường THPT Thạnh Mỹ Tây

các tin khác