Năm 1858, Pháp nổ súng tại bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), chính thức xâm lược nước ta. Đưa nước ta từ một nước phong kiến trở thành nước thuộc địa, bị đàn áp bóc lột trong đêm trường nô lệ. Đã có rất nhiều cuộc khởi nghĩa nổi dậy như của các anh hùng, sĩ phu yêu nước: Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Yên Thế…Tuy nhiên vì không có tổ chức và đường lối rõ ràng, nên tất cả đều bị thất bại.

Cách mạng Việt Nam bước sang trang mới khi có sự ra đời của Đảng cộng sản, quyết định sự phát triển của dân tộc, chấm dứt khủng hoảng về đường lối, tổ chức đấu tranh.
Ngày 22/12/1944, tại khu rừng giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (nay là xóm Nà Sang, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng), Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập theo Chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh. Trong Chỉ thị, Người ghi rõ: “Tên ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ rất vẻ vang. Là khởi điểm của giải phóng quân, có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”. Đội gồm 34 người, biên chế thành 3 tiểu đội do đồng chí Hoàng Sâm làm Đội trưởng, đồng chí Xích Thắng làm Chính trị viên, có chi bộ Đảng lãnh đạo. Đồng chí Võ Nguyên Giáp được Trung ương Đảng và Lãnh tụ Hồ Chí Minh ủy nhiệm tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy, tuyên bố thành lập Đội. Ngày 22/12/1944 được lấy làm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.
Ngay sau ngày thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã mưu trí, táo bạo, bất ngờ đột nhập vào đồn Phai Khắt và Nà Ngần tiêu diệt hai tên đồn trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính địch, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng. Chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần mở đầu cho truyền thống “quyết chiến, quyết thắng" của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, lực lượng vũ trang đã làm nòng cốt, hỗ trợ cho phong trào nổi dậy của quần chúng Nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Tại Quảng trường Ba Đình Bác Hồ đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam Giải phóng quân được đổi tên thành Vệ Quốc quân. Năm 1946, Vệ Quốc quân đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam. Năm 1950, đổi tên thành Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tuy nhiên, Không buông bỏ được nổi nhục khi bị chúng ta nổi dậy, dành lại chính quyền và với sự giúp đỡ của Anh quốc thì thực dân Pháp lại xâm lược nước ta lần thứ hai, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng vũ trang phát triển mạnh mẽ, cùng nhân dân ta nhất tề đứng lên, quyết chiến đấu với quân xâm lược.
Đêm 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Bác Hồ đã ra lời Kêu gọi “toàn quốc kháng chiến”. Mùa Xuân năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Chính phủ lên Việt Bắc, nơi đây trở thành trung tâm chỉ đạo kháng chiến của cả nước.
Với các chiến dịch lớn tiêu biểu như: Việt Bắc, Thu Đông năm 1947; chiến dịch Tây Bắc năm 1952… ta đã tiêu diệt lực lượng lớn quân địch, giải phóng một vùng rộng lớn ở địa bàn chiến lược quan trọng, nối thông vùng giải phóng Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bắc và Thượng Lào, giữ vững thế chủ động tiến công, làm thất bại âm mưu mở rộng chiếm đóng của địch.

Sau khi thực dân Pháp đổ quân đánh chiếm Điện Biên Phủ, trước thời cơ thuận lợi, ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị họp quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau 56 ngày đêm (13/3 - 7/5/1954) liên tục chiến đấu, quân và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, loại khỏi vòng chiến đấu 16.200 tên địch, bắn rơi và phá huỷ 62 máy bay; thu toàn bộ vũ khí, kho tàng, cơ sở vật chất kỹ thuật của địch ở Điện Biên Phủ. Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược, buộc thực dân Pháp phải ký kết hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Đây là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự Việt Nam.
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ mở ra một giai đoạn phát triển mới của cách mạng Việt Nam. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng và bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.
Sau những thắng lợi quan trọng của cách mạng miền Nam, tháng 1/1968, Hội nghị Trung ương lần thứ 14 nhất trí thông qua Nghị quyết của Bộ Chính trị (12/1967), quyết định mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Chỉ trong thời gian ngắn, quân và dân ta đã tiến công vào hàng loạt mục tiêu nằm sâu trong các đô thị trên toàn miền Nam, gây cho địch thiệt hại rất nặng nề, làm đảo lộn thế trận chiến lược của đế quốc Mỹ. Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của đế quốc Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược của giới cầm quyền Mỹ, làm phá sản chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, rút dần quân Mỹ về nước, chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Paris.
Với bản chất ngoan cố và hiếu chiến, đế quốc Mỹ không cam tâm chịu thất bại, từ năm 1969, chúng chuyển sang thi hành “Học thuyết Níchxơn” và chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”.
Trước những thất bại nặng nề, đêm 18/12/1972, đế quốc Mỹ liều lĩnh mở cuộc tập kích đường không chiến lược quy mô lớn nhất mang tên “Chiến dịch Lainơbêchcơ II” đánh phá miền Bắc, tập trung ồ ạt vào Hà Nội, Hải Phòng. Những thắng lợi to lớn của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam, cùng với Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” đã buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973), rút quân về nước. Tuy nhiên, ngụy quyền Sài Gòn ngang nhiên vi phạm Hiệp định, ráo riết thực hiện kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ”, đẩy mạnh lấn chiếm vùng giải phóng của ta.
Từ những thắng lợi…, Bộ Chính trị quyết định giải phóng Sài Gòn và toàn miền Nam. Chiến dịch giải phóng Sài Gòn được lấy tên là “Chiến dịch Hồ Chí Minh”. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo: “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”,… sáng 30/4, quân ta tổng công kích vào nội thành Sài Gòn, nhanh chóng thọc sâu đánh chiếm các mục tiêu then chốt; 10 giờ 45 phút, lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2 đánh chiếm Dinh Độc Lập, bắt toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn, buộc tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng không điều kiện. 11 giờ 30 phút cùng ngày, lá cờ của Quân Giải phóng được cắm trên nóc Dinh Độc Lập, đánh dấu sự toàn thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Song song với các cuộc tiến công trên bộ giành thắng lợi, thực hiện chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh, Quân chủng Hải quân đã khẩn trương chuẩn bị lực lượng, tranh thủ thời cơ, mưu trí, táo bạo, bất ngờ tiến công lần lượt giải phóng các đảo thuộc quần đảo Trường Sa: Song Tử Tây (14/4), Sơn Ca (25/4), Nam Yết (27/4), Sinh Tồn (28/4), Trường Sa (29/4). Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược, góp phần giữ vững chủ quyền quốc gia ở quần đảo Trường Sa.
Nhân dân ta được sống trong hòa bình, độc lập chưa được bao lâu, chúng ta phải đối đầu với cuộc chiến biên giới phía bắc và Biên giới Tây nam.
Ở phía bắc, ngay từ cuối năm 1978, với luận điệu "dạy cho Việt Nam một bài học" Trung Quốc đã âm thầm lựa chọn, điều động lực lượng binh lực cùng số lượng lớn trang thiết bị vũ khí áp sát trên toàn tuyến biên giới với Việt Nam.
Đối mặt với đội quân tấn công từ bên kia biên giới phía Bắc đông tới 60 vạn người cùng hàng nghìn xe tăng và pháo hạng nặng, Việt Nam vào ngày 17/2/1979 chỉ có lực lượng công an vũ trang, dân quân địa phương và 7 sư đoàn với tổng số quân khoảng 7 vạn người. Với tinh thần chiến đấu của quân và dân ta là anh dũng vô song. Lực lượng ít hơn đội quân Trung Quốc hàng chục lần nhưng quân và dân biên giới đã chiến đấu ngoan cường, anh dũng chặn đứng bước tiến của đội quân đông hơn gấp bội. Góp phần giữ vững biên giới phía Bắc.
Trong giai đoạn này cực Tây Nam của Tổ quốc, từ năm 1975 đến 1978, quân Pol Pot đã mở nhiều cuộc tấn công xâm lấn vào sâu lãnh thổ nước ta, gây ra hàng loạt vụ thảm sát đẫm máu đối với nhân dân dọc biên giới Việt Nam-Campuchia. Hành động của tập đoàn phản động, hiếu chiến Pol Pot-Ieng Sary đã xâm phạm thô bạo độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, gây tổn hại mối quan hệ giữa hai nước.
Theo đề nghị của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, với tinh thần quốc tế trong sáng, quân tình nguyện Việt Nam đã phối hợp lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia mở cuộc tổng tấn công giải phóng Thủ đô Phnom Penh và toàn bộ đất nước Campuchia (ngày 7/1/1979), cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng.
Thắng lợi của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam đã đập tan mưu đồ thâm độc của tập đoàn Pol Pot-Ieng Sary, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi bờ vực của thảm họa diệt chủng; chặn đứng âm mưu chia rẽ truyền thống đoàn kết lâu đời của ba nước Đông Dương, góp phần giữ vững hòa bình, ổn định ở khu vực Đông Nam Á và trên thế giới; tạo điều kiện khôi phục lại tình hữu nghị và tình đoàn kết chiến đấu giữa hai Đảng và nhân dân hai nước Việt Nam-Campuchia.
Trong khi đó, Cùng với quá trình thành lập và chiến thắng vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam. LLVT Quân khu 9, LLVT tỉnh An Giang và LLVT huyện Châu Phú cũng lần lượt ra đời và trưởng thành trong đấu tranh.
Với những trận đánh tiêu biểu như: trận đánh vây đồn Ba Chúc; diệt viện Lê Trì (tháng 9/1964). Trận tập kích chi khu Kiên Lương (tháng 10/1964); trận đánh tấn công đồn Băng Trạo - An Tức (tháng 11/1964); Trận đánh diệt đồn Thalapăngxây-Ô lâm; trận tập kích đồn Vĩnh Thông (tháng 12/1964) và một số trận đánh tiêu biểu khác giành thắng lợi.
Thành tích tiêu biểu đặc biệt xuất sắc trong giai đoạn này là trận quyết chiến 128 ngày đêm (từ ngày 7/11/1968 đến 23/2/1969) tại đồi Tức Dụp, núi Cô Tô (huyện Tri Tôn), LLVT và nhân dân AG đã lập nên một chiến công kỳ tích. Góp phần tô thắm thêm trang sử hào hùng của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Đối với LLVT huyện Châu Phú
Ngày 25/8/1945 lực lượng thanh niên tiền phong cùng nhân dân các xã Châu Phú giành chính quyền thành công. Đến ngày 26/8/1945, toàn bộ hệ thống chính quyền của địch ở Châu Phú về tay nhân dân. Đây cũng là ngày truyền thống LLVT huyện Châu Phú.
Được sự hỗ trợ của LLVT tỉnh và được sự bảo bọc, che trở của nhân dân, LLVT huyện Châu Phú từng bước trưởng thành và không ngừng lớn mạnh, chiến đấu quyết liệt với kẻ thù, đánh bại những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của địch qua từng giai đoạn lịch sử. Nhất là trong giai chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Với tinh thần dũng cảm, hy sinh, mưu trí, sáng tạo, LLVT huyện Châu Phú không ngừng chiến đấu trên địa bàn huyện mà còn giúp huyện bạn (Tân Châu, An Phú) đánh tiêu diệt địch và làm nên những chiến công vang dội tác động tinh thần địch như trận hóa trang lấy súng địch ở đình Bình Long (Cái Dầu), trận Kinh Lãi (Mỹ Đức), trận chống càn ở Cóc Đạo Cậy (Thạnh Mỹ Tây), góp phần cùng LLVT và nhân dân cả tỉnh giành thắng lợi sau cùng, giải phóng hoàn toàn quê hương.
Bước vào thời kỳ xây dựng, phát huy truyền thống anh hùng cách mạng, LLVT huyện Châu Phú tích cực góp phần xây dụng kinh tế - xã hội; giữ vững an ninh chính trị địa phương; đồng thời lên đường tham gia chiến đấu chống quân Pon Pốt bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế Camphuchia.
Trong suốt quá trình chiến đấu khó khăn, gian khổ của hai cuộc kháng chiến và chiến tranh biên giới, LLVT huyện Châu Phú đã có những đóng góp to lớn. Nhiều cán bộ - chiến sĩ đã hy sinh vì độc lập dân tộc, nhiều người đã cóng hiến một phần xương máu của mình trên mảnh đất quê hương và trên đất bạn.

Với những kết quả đạt được trong xây dựng, chiến đấu và trưởng thành LLVT huyện Châu Phú đã vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng nhiều phần thưởng cao quý. Đặc biệt được Đảng, Nhà Nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho: Nhân dân và LLVT xã Mỹ Đức vào ngày 29/1/1996. Nhân dân và LLVT 3 xã: Bình Mỹ, Khánh Hòa, Thạnh Mỹ Tây và Nhân dân và LLVT huyện Châu Phú trong ngày 28/5/2010. Huyện Châu Phú có 44 Bà mẹ VNAH, 04 cá nhân AHLLVTND.
80 năm qua, tự hào và trách nhiệm, Đảng bộ Quân sự và LLVT huyện Châu Phú nguyện một lòng giữ vững khối đoàn kết trong toàn Đảng bộ và đoàn kết Quân – Dân, tiếp tục phát huy những kinh nghiệm trong chiến đấu và xây dựng để luôn xứng đáng với truyền thống anh hùng mà bao thế hệ ông cha đã dày công vun đắp, tạo dựng nên./.
Nhẫn Nguyễn
