Ý nghĩa của “Điểm tựa Việt Nam” vì sự phát triển ổn định, vươn mình trong kỷ nguyên mới

 

Trong bản Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn và gửi gắm một thông điệp lịch sử, chứa đựng giá trị nhân văn sâu sắc, mang tầm triết lý để cổ vũ, động viên, khích lệ toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta nêu cao ý chí quyết tâm xây dựng đất nước sánh vai cường quốc năm châu. Người chỉ rõ: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: “Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”. 

 

Trong hành trình dựng xây, kiến thiết đất nước phồn vinh, hạnh phúc luôn chứa đựng những khó khăn, trắc trở. Do đó, những điểm tựa của dân tộc Việt Nam có ý nghĩa quan trọng để chúng ta vượt qua, chiến thắng những thách thức, bảo đảm sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước trong mọi hoàn cảnh, điều kiện.

 

Những điểm tựa của Việt Nam được bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử dựng nước và giữ nước của ông cha; từ yêu cầu của nền nông nghiệp trồng lúa nước đã khởi nguồn cho sự hình thành, phát triển của những điểm tựa, mang tính giá trị truyền thống. Theo Giáo sư Trần Văn Giàu đã khẳng định: “Giá trị truyền thống là một sức mạnh không thể xem thường. Huy động các giá trị để làm cách mạng và kháng chiến hiện đại là huy động sức mạnh của hàng mấy mươi thế kỷ, là mấy mươi thế kỷ ông cha cổ vũ cho con cháu hoàn thành sự nghiệp của dân tộc”.

 

Tối ngày 15/9/2024, Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Chương trình truyền hình trực tiếp "Điểm tựa Việt Nam" do Đài Truyền hình Việt Nam thực hiện, Thủ tướng đã nói lên 06 điểm tựa của dân tộc Việt Nam đó là:

 

- Điểm tựa thứ nhất, chính là điểm tựa vào tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết trong Đảng, đoàn kết trong Nhân dân, đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế.

 

- Điểm tựa thứ hai, là điểm tựa vào Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh và sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, Nhà nước. Hơn 90 năm qua, Đảng ta không có mục tiêu nào khác ngoài mục tiêu mang lại độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam.

 

- Điểm tựa thứ ba, là điểm tựa vào truyền thống lịch sử hào hùng, văn hóa, văn hiến, văn minh của dân tộc Việt Nam; tinh thần "tương thân, tương ái”, “lá lành đùm lá rách”, “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy  rằng khác giống nhưng chung một giàn”.

 

- Điểm tựa thứ tư, là điểm tựa vào Nhân dân: Nhân dân làm nên lịch sử; sức mạnh từ Nhân dân; “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

 

- Điểm tựa thứ năm, là điểm tựa dựa vào lực lượng Quân đội và Công an. Khi cần, khi khó có Quân đội, Công an. “Quân đội ta từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu”, “Công an ta vì nước quên thân, vì dân phục vụ”.

 

- Điểm tựa thứ sáu, là tinh thần tự lực, tự cường , tự hào, tự tôn dân tộc. Khi có khó khăn phức tạp, càng áp lực thì càng nỗ lực, phấn đấu vươn lên, tự mình vượt ra khỏi giới hạn của mình, tự cứu lấy mình với tinh thần “biến không thành có, biến khó thành dễ, biến không thể thành có thể”.

 

Sáu “Điểm tựa Việt Nam” là sự hội tụ tinh hoa, khí chất của con người Việt Nam được kết tinh từ truyền thống nghìn năm văn hiến, anh hùng của dân tộc, là nguồn sức mạnh nội sinh bảo đảm cho sự trường tồn và phát triển bền vững của đất nước Việt Nam. Dù trong mọi điều kiện, hoàn cảnh nào, sáu “Điểm tựa Việt Nam” vẫn luôn có mặt hiện hữu ở mọi lúc, mọi nơi, nhất là vào thời điểm lịch sử có tính chất bước ngoặt, cần phải huy động, mọi sức lực, vật lực, lại bừng sáng lên nghĩa tình đồng bào, đồng chí, đồng đội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

 

Một là, tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc - nguồn sức mạnh nội sinh to lớn, điểm tựa vững chắc nhất của đất nước.

 

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Câu nói rất giản dị, mộc mạc, nhưng chứa đựng những quan điểm, tư tưởng về vị trí, vai trò, nội dung và phương thức đoàn kết, tập hợp lực lượng cách mạng, đưa sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc của nhân dân ta đến thắng lợi cuối cùng. Đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc ta, được truyền từ thế hệ này sang thế khác, trở thành niềm tin, lẽ sống, phương châm hành động của mỗi con người trong thực tiễn xã hội.

 

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, nhờ có đoàn kết rộng rãi trong toàn xã hội, mà Đảng, Nhà nước ta đã khơi dậy ý chí, khát vọng to lớn của các tầng lớp Nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta trung thành, vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết vào thực tiễn, khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, đường lối chiến lược quan trọng xuyên suốt của Đảng; nguồn sức mạnh to lớn, nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

 

Hai là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân tố hàng đầu bảo đảm cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc, thì Đảng không có lợi ích gì khác. Cho nên Đảng phải ra sức tổ chức Nhân dân, lãnh đạo Nhân dân để giải phóng Nhân dân và để nâng cao sinh hoạt, văn hóa, chính trị của nhân dân”. Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng, sự nghiệp đấu tranh cho mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần củng cố, giữ vững niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Đảng ta đã khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của Nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Đảng đã vạch ra quan điểm, đường lối phát triển kinh tế - xã hội, lãnh đạo Nhà nước thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nội dung đã xác định trong các kỳ đại hội.

 

Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, Đảng đã không ngừng đổi mới về phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển của đất nước. Ở đâu có Nhân dân, ở đó có sự lãnh đạo của Đảng, chính điều này đã tạo nên sức mạnh, trở thành điểm tựa vững chắc để Nhân dân tin tưởng, hy vọng vào sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước.

 

Ba là, truyền thống lịch sử - văn hóa hào hùng, văn minh, văn hiến, điểm tựa để dân tộc vượt qua mọi khó khăn, thử thách, vững tin vào tương lai

 

Truyền thống lịch sử - văn hóa, văn minh, văn hiến là những giá trị cốt lõi của dân tộc được đúc kết, khái quát từ thực tiễn chiến đấu, lao động sản xuất, đời sống của con người Việt Nam. Đó là những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, có vai trò quan trọng để điều chỉnh thái độ, hành vi của con người. Các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, như: “lá lành đùm lá rách”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng/Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, “thương người như thể thương thân”, “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/Người trong một nước phải thương nhau cùng”... Ở đâu Nhân dân gặp khó khăn, hoạn nạn, ở đó có các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc xuất hiện. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Dân tộc ta là một dân tộc giàu lòng đồng tình và bác ái” .

 

Đây chính là điểm tựa để mỗi chúng ta vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại, củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước trên trường quốc tế. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng chỉ rõ: “Một xã hội văn minh là một xã hội xây dựng được quan hệ giữa con người với con người lành mạnh, giàu tình thương và lòng nhân ái; mọi cuộc sống, làm việc và hoạt động vì lợi ích của bản thân, gia đình và cộng đồng. Tự do và lợi ích của mỗi người được giới hạn bởi tự do và lợi ích của những người khác; con người sống và đối xử với nhau theo đạo lý: “Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”. Xã hội văn minh là xã hội có văn hóa. Trình độ văn minh của xã hội tùy thuộc ở trình độ văn hóa của mỗi người và cả cộng đồng, ở sự thống nhất và hòa hợp giữa phép nước và lòng dân”

 

Bốn là, Nhân dân là cội nguồn của sự nghiệp đổi mới, sáng tạo và phát triển đất nước

 

Kế thừa và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: Nhân dân là người làm nên lịch sử, cách mạng là ngày hội của quần chúng Nhân dân, vào điều kiện thực tiễn Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng Nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của Nhân dân”. Một trong những bài học kinh nghiệm được Đại hội XIII của Đảng chỉ ra: “trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân… Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Do đó, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chăm lo đến đời sống của Nhân dân, thông qua những cơ chế, chính sách đúng đắn, phù hợp, hiệu quả.

 

Chính điều này đã góp phần làm nên sức mạnh vô địch trong Nhân dân, đồng thời đặt ra yêu cầu cho Đảng và Nhà nước luôn tin dân, trọng dân, gần dân, sát dân, lắng nghe tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của Nhân dân, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân.

 

Năm là, Quân đội và Công an là lực lượng nòng cốt, điểm tựa của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nhân dân ta có hai lực lượng. Một là quân đội, để đánh giặc ngoại xâm, để bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hòa bình. Một lực lượng nữa là Công an, để chống kẻ địch trong nước, chống bọn phá hoại. Có lúc chiến tranh, có lúc hòa bình. Lúc chiến tranh thì quân đội đánh giặc, lúc hòa bình thì tập luyện. Còn Công an thì phải đánh địch thường xuyên, lúc chiến tranh có việc, lúc hòa bình lại càng nhiều việc”. Quân đội ta “từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu”, Công an “vì nước quên thân, vì dân phục vụ” đã đồng hành cùng với Nhân dân trong suốt sự nghiệp đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mỗi bước đi, mỗi thắng lợi của dân tộc đều có sự đóng góp to lớn của lực lượng Quân đội và Công an, đây chính là lực lượng nòng cốt, chính huy, tinh nhuệ trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ XHCN. Ở đâu có khó khăn, vất vả, ở đó có Quân đội và Công an, sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình để bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhân dân. Sự hiện diện và nỗ lực hết mình phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân của Quân đội và Công an đã đem đến sự công bằng, bình đẳng, bình yên trong xã hội, thắp sáng niềm tin, điểm tựa vững chắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 

Sáu là, ý chí tự lực, tự cường vượt qua mọi khó khăn, gian khổ - điểm tựa ổn định, bền vững để khẳng định vị thế của đất nước

 

Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Ý chí tự lực, tự cường của con người Việt Nam là dòng chảy liên tục không ngừng từ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc; không khuất phục, không cam chịu trước khó khăn, gian khổ; luôn có ý chí, nghị lực vươn lên mạnh mẽ, quyết liệt bằng chính bàn tay, khối óc của mình. Ý chí tự lực, tự cường đã vượt qua khuôn khổ giới hạn của chính bản thân mình để tồn tại và phát triển, khẳng định tính chính danh trong cộng đồng xã hội. Ý chí tự lực, tự cường của con người Việt Nam là một giá trị văn hóa bất biến không bao giờ vơi cạn, ngày càng được bồi đắp, trở thành một sức mạnh tinh thần, nền tảng, điểm tựa vững chắc bảo đảm cho sự phát triển ổn định, bền vững của đất nước.

 

Bản lĩnh, sức mạnh phi thường của Nhân dân, ý chí tự lực, tự cường mạnh mẽ, quyết liệt vươn lên nên bất luận trọng điều kiện, hoàn cảnh nào, con người Việt Nam cũng vượt qua tất cả, không đầu hàng nghịch cảnh, càng ở thời điểm khó khăn, thách thức, càng sáng lên ý chí tự lực, tự cường phi thường của con người Việt Nam.

 

Qua 06 điểm tựa trên cho thấy dân tộc Việt Nam với hàng nghìn năm lịch sử, văn hiến, anh hùng đã tạo dựng, xây đắp nên những điểm tựa Việt Nam trong suốt quá trình hình thành, phát triển của đất nước ta từ quá khứ, hiện tại và tương lai. Những điểm tựa Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam nhân lên sức mạnh, đưa dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, làm cho vị thế, uy tín của nước ta ngày càng được củng cố, giữ vững và tăng lên trên trường quốc tế. Bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên tiên tiến, văn minh, hiện đại, những điểm tựa Việt Nam là nguồn gốc, là động lực mạnh mẽ, to lớn để dân tộc ta vượt qua và chiến thắng mọi khó khăn, gian khổ, tiếp tục đưa đất nước phát triển đi lên./.

 

Đỗ Thanh Phong – PGĐ Trung tâm Chính trị huyện